Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2011

ẤN TƯỢNG VỀ TỔNG BÍ THƯ

Ấn tượng đầu tiên của ông “không ấn tượng”

page Nguyễn Phú Trọng là nhân vật nhạt nhòa. Tuy nhiên, ông vừa làm được một điều không thể không khen: Lần đầu tiên, khi về làm việc với các bộ ngành và  địa phương, Tổng Bí thư đã không để cho họ căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mình. Từ khi ngồi ghế Tổng Bí thư đến nay, đó là ấn tượng đầu tiên của ông “không ấn tượng”.

          Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các Phó Thủ tướng và thành viên chính phủ đang có những chuyến làm việc với các bộ ngành và địa phương. Dường như đây là đợt “xuống cơ sở” đầu tiên của nhiệm kỳ mới.
          Không thấy gì mới. Điều mới duy nhất ít nhiều gây ấn tượng trong tôi lại ở chính nhân vật “không ấn tượng”: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Lần đầu tiên, khi về làm việc với các bộ ngành và địa phương, Tổng Bí thư đã không để cho họ căng khẩu hiệu “nhiệt liệt chào mừng” mình (Vậy mà không hiểu sao chả thấy một tờ báo nào lên tiếng khen cho ông Tổng một câu. Trong khi lại chăm chắm miệt mài “khai thác” hết công suất vụ giết người man rợ ở Bắc Giang).
oTrong
          TBT Nguyễn Phú Trọng làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam ngày 13/8  (ảnh: TTXVN, dẫn theo báo Hà Nội mới)
lien hiep hoi
          TBT Nguyễn Phú Trọng làm việc với Ban Tuyên giáo trung ương ngày 15/8 (ảnh: báo Đại biểu Nhân dân)
kien giang
          TBT Nguyễn Phú Trọng làm việc với lãnh đạo tỉnh Kiên Giang ngày 28/8 (ảnh: báo Đại biểu Nhân dân)
          Trong khi đó, tất tật từ Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng đến các Phó Thủ tướng, thậm chí cả những vị Bộ trưởng thành viên chính phủ đến đâu cũng “nhiệt liệt chào mừng”, cũng chễm trệ ngồi dưới những tấm bảng băng rôn “nhiệt liệt” đỏ lòm để làm việc và huấn thị các bộ ngành và địa phương.
2773235
         Chủ tịch nước Trương Tấn Sang làm việc với Tòa án tối cao ngày 30/8 (ảnh: trang web Tòa án tối cao)
untitled
          Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng làm việc với Văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội và HĐND tỉnh Nghệ An sáng 11/8 (ảnh: báo Nghệ An)
BAC0599
          Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên- Huế chiều 2/9 (ảnh báo điện tử Chính phủ)
HINH1-1
          Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Trị chiều 3/9 (ảnh báo điện tử Chính phủ)
nxphuc
          Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi kiểm tra công tác đặc xá tại Trại giam Hoàng Tiến ngày 22/8, nhưng đến cả trại giam cũng phải “nhiệt liệt chào mừng” (ảnh báo điện tử Chính phủ)
IMG_3645%20resized
          Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh làm việc với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sáng 29/8 ngay giữa thủ đô Hà Nội cũng “nhiệt liệt chào mừng” (ảnh: báo điện tử Chính phủ)
ntnhan
          Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân làm việc với công ty Cổ phần Traphaco ngày 2/7 (ảnh: trang tin điện tử Truyền thông giáo dục sức khỏe)
dinh la thang
          Đến ông tân Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng đi làm việc với ngành Đường sắt ngày 18/8 cũng “nhiệt liệt chào mừng” (ảnh: trang web Tổng công ty công trình đường sắt)

          “Nhiệt liệt chào mừng” là câu khẩu hiệu dành cho nghi thức ngoại giao. Mọi quan hệ quan- dân, trên- dưới trong hoạt động đối nội, trong trách nhiệm đương nhiên của đảng, nhà nước và chính phủ phải chấm dứt “nhiệt liệt”. Tôi muốn phong trào “nói không với nhiệt liệt chào mừng” được phát động và áp dụng ngay từ hôm nay. Mà trước hết, từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội… đến tất thảy các ngài Bộ trưởng, Thứ trưởng và Trung ương ủy viên. Không “nói không với nhiệt liệt chào mừng” được thì cái quãng cách cầu nối với dân vẫn còn rất xa. Và mọi lời huấn thị, rao giảng dưới những câu “nhiệt liệt” ấy rất khó lọt tai dân”- Tôi viết những dòng này từ hai năm trước trong bài “Nói không với nhiệt liệt chào mừng”.
          Chờ hai năm sau, mới thấy được một ông dám “dũng cảm” nói không. Bất ngờ ở chỗ nó lại xảy ra với một nhân vật tôi không chút kỳ vọng nào: ông Tổng Bí thư “không ấn tượng” Nguyễn Phú Trọng.
          Không biết từ chuyện này, liệu ông Trọng có để lại thêm được những ấn tượng nào khác, hay cũng chỉ đến vậy? Dù sao thì đây cũng là điều không thể không khen. Tuy nhiên, ông không nên gương mẫu theo cách lẳng lặng “nói không” một mình. Với quyền năng Tổng Bí thư, ông phải làm sao để từ nay buộc tất thảy Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Bộ trưởng, Thứ trưởng và Trung ương ủy viên… không được để cho các địa phương “nhiệt liệt chào mừng” mình. Làm tiếp được điều này, ông Trọng sẽ ấn tượng hơn, ấn tượng thật và tỏ rõ quyền uy thật.
          Hay biết đâu có thể các vị Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội… đến tất thảy các ngài Bộ trưởng, Thứ trưởng và Trung ương ủy viên nhìn thấy vậy sẽ biết “xấu hổ” mà “nói không” theo? Tuy nhiên tôi không tin và kỳ vọng vào cái sự tự biết xấu hổ này.
BAC0599 - Copy BAC0599 - Copy 
BAC0599 - Copy BAC0599 - Copy BAC0599 - Copy Nguồn: Blog Trương Duy Nhất

GÓP Ý SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP NÈ


Một Đảng và Hiến Pháp

Huy Đức



Không hiểu vì sao Hiến pháp lại được đưa ra sửa khi những ý tưởng cải cách trong Đảng thì thiếu vắng và tình hình theo nhiều người là vẫn “chưa đủ xấu”. Nếu không xuất phát từ nhu cầu cải cách, việc sửa đổi Hiến pháp chỉ là vá víu. Rất tiếc là Đảng Cộng sản Việt Nam thường chỉ chấp nhận cải cách khi bị dồn tới chân tường, Đại hội VI năm 1986 là ví dụ.

 Chỉ chưa đầy 5 thập niên (1946-1992), Việt Nam có 4 lần thay Hiến pháp. Năm 1959, khi môi trường chính trị để vận hành một nhà nước dân chủ và đoàn kết toàn dân theo Hiến pháp 1946 không còn, Đảng Cộng sản hình thành ở miền Bắc một nhà nước do “giai cấp công nhân lãnh đạo”. Tháng 6-1976, sau khi chiến thắng người anh em ở miền Nam, trong tâm thế “ta đang tới đỉnh cao nhân loại”, Quốc hội Thống nhất quyết định thay thế Hiến pháp 1959, thiết lập trên cả nước một nhà nước chuyên chính vô sản hơn. Nhưng, đường lối Đại hội Đảng lần thứ IV và mô hình nhà nước theo Hiến pháp 1980 đã nhanh chóng đưa Việt Nam tới chỗ bế tắc. Đảng phải tìm lối thoát bằng cách chia tay với mô hình copy từ Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.
 Hiến pháp 1992 đã từ bỏ bớt quyền lực tập trung. Từ chỗ không thể đưa ký gạo từ quê lên, đến thập niên 1990, người dân đã có thể lập công ty, được đi lại, được ra cả nước ngoài mua bán. Trong kinh tế cũng như trong chính trị, một quốc gia chỉ trở nên thịnh vượng khi người dân thực sự có quyền. Bản chất của “đổi mới” mà Đảng thường nói đến như một công lao chỉ đơn giản là trả lại cho người dân một phần quyền, trong đó có quyền được tự lo lấy cơm ăn, áo mặc.
 Khi Quốc hội công bố sửa đổi Hiến pháp 1992, nhiều người đề nghị: Thay vì quan niệm Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, nên thiết kế Hiến pháp như một bản khế ước xã hội, theo đó, “con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức trao một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền để có được sự chở che của xã hội”. Tuy nhiên, chỉ trong một chế độ thực sự dân chủ, hiến pháp cũng như các đạo luật khác mới trở thành một khế ước. Đảng biết trước câu trả lời khi các vấn đề sau đây phải trưng cầu dân ý: Điều 4; quyền tư hữu về ruộng đất cho người dân; mô hình chính trị…
 Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law). Ngay cả trong điều kiện đó thì Đảng cũng phải biết mình muốn tổ chức một nhà nước theo mô hình nào: Tản quyền hay tập quyền? Cộng hòa tổng thống hay cộng hòa nghị viện? Mô hình ít xáo trộn nhất với điều kiện hiện nay là cộng hòa bán tổng thống: Chủ tịch nước vừa là nguyên thủ quốc gia vừa đứng đầu chính phủ nhưng chỉ nắm các quyền ngoại giao và an ninh, quốc phòng; Thủ tướng tập trung lãnh đạo các vấn đề kinh tế. Chủ tịch nước có thể được bầu bởi 2/3 đại biểu quốc hội hoặc được bầu bởi số phiếu quá bán của quốc hội cùng toàn thể đại biểu các hội đồng nhân dân ở cấp thành và cấp tỉnh.
 Nhưng trước hết, cải cách phải được tiến hành trong Đảng. Đội ngũ cán bộ Đảng nên được phân công theo hướng: Có những người làm công tác Đảng chuyên trách và có những người được Đảng đưa sang ứng cử các chức danh nhà nước. Những người chuyên trách ở cấp Trung ương được gọi là Ban Bí thư, gồm các chiến lược gia, chịu trách nhiệm tìm kiếm nhân sự cho Đảng và chuẩn bị các vấn đề lý luận. Các văn kiện của Ban Bí thư chỉ có giá trị lưu hành nội bộ.
 Đại hội của Đảng nên diễn ra theo hai vòng: Vòng một, tổ chức tranh cử trong Đảng để bầu các ứng cử viên ra ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân (ở các đảng bộ địa phương) và ứng cử đại biểu Quốc hội (ở đảng bộ toàn quốc). Số lượng ứng cử viên mà Đảng bầu ra phải nhiều gấp đôi số đại biểu cần thiết. Những ứng cử viên của Đảng trúng cử đại biểu Quốc hội đương nhiên trở thành trung ương ủy viên. Sau bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân, Đảng tổ chức đại hội vòng hai để cho các Trung ương ủy viên ra tranh cử ứng cử viên chức Chủ tịch nước và các ủy viên Bộ Chính trị. Đại hội giới thiệu ít nhất hai ứng cử viên để bầu Chủ tịch nước. Ai đắc cử Chủ tịch nước người đó đương nhiên trở thành Tổng Bí thư. Chủ tịch nước sẽ lập nội các bao gồm các thành viên trong Bộ Chính trị.
 Quốc hội chỉ nên có không quá 400 người, trong đó: những đại biểu được bầu từ “bảng A”, gồm các ứng cử viên của của Đảng và những đại biểu được bầu từ “bảng B”, gồm các ứng cử viên độc lập. Chưa thể hy vọng bầu cử tự do được thiết lập trong lần sửa Hiến pháp này, nhưng nếu Đảng dành cho các ứng cử viên độc lập khoảng 100 ghế trong Quốc hội thì Đảng vẫn nắm quyền quyết định nhưng nhân dân sẽ có tiếng nói; các vấn đề kinh tế, xã hội sẽ được mổ xẻ, lương tri của các đại biểu là trung ương ủy viên sẽ được đánh thức; quy trình quyết định được giám sát chính trị một cách chặt chẽ hơn, tránh được các rủi ro do áp đặt và thiếu phản biện khi ban hành chính sách.
 Tất cả ứng cử viên tất nhiên phải là công dân Việt Nam, nhưng hiện có hàng triệu người Việt đang sống ở nước ngoài và nhiều người trong số họ đang có hai quốc tịch. Nên quy định, chỉ những công dân Việt Nam không mang quốc tịch khác, hoặc đã từ bỏ quốc tịch khác, đã định cư trong nước ít nhất là 5 năm trước ngày bầu cử mới được quyền ứng cử. Chỉ có một đảng thì không thể đòi những cuộc bầu cử có hàm lượng dân chủ cao. Nhưng nếu những người tự ứng cử không được Đảng ủng hộ bị loại ra khỏi cuộc chơi bằng tổ dân phố và mặt trận tổ quốc thì không nên tổ chức bầu cử làm gì cho tốn kém.
 Có thể áp dụng quy trình hiện hành đối với những người được Đảng đưa ra đề cử. Nhưng những ứng cử viên độc lập thì chỉ cần thu thập đủ một lượng chữ ký tùy theo đơn vị bầu cử: nếu ở các thành phố lớn thì có thể 10 nghìn; nếu ở miền núi thì có nơi chỉ cần 500 đến 1000 chữ ký. Tất cả các đại biểu Quốc hội, trừ những người tham gia nội các, là Trung ương ủy viên hay đại biểu độc lập, đều có quyền ngang nhau. Họ vừa có văn phòng làm việc ở Hà Nội và ở nơi ứng cử. Nội các và các đại biểu Quốc hội đều được bố trí nhà công vụ ở Thủ đô, hết nhiệm kỳ thì bàn giao lại cho những người kế tiếp.
 Theo mô hình này, quyền lực được phân bớt cho các địa phương. Chính quyền trung ương chỉ nắm những quyền đủ để kiểm soát sự phát triển thống nhất của quốc gia. Các tỉnh trưởng không nhất thiết tham gia Ban chấp hành Trung ương, nhưng nhiều người trong số họ có thể là ứng cử viên hàng đầu của chức Chủ tịch nước trong nhiệm kỳ kế tiếp.
 Tòa án bao gồm: tòa địa phương, xử các tội hình sự liên quan đến giựt dọc, trộm cắp… thẩm phán tòa này do tỉnh trưởng bổ nhiệm, được phê chuẩn bởi hội đồng nhân dân; tòa quốc gia, xử các tội đại hình, các tội tham nhũng và các tội phạm về chức vụ… thẩm phán tòa này do Chủ tịch nước bổ nhiệm, Quốc hội phê chuẩn. Các ứng cử viên thẩm phán bao gồm các luật sư danh tiếng hoặc các thẩm phán liêm chính được chọn từ tòa dưới. Chính quyền Trung ương chỉ cần có bộ an ninh và cục điều tra quốc gia. Trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử của các tòa địa phương, quyền điều tra nằm trong tay cục điều tra quốc gia. Lực lượng cảnh sát nên giao về cho địa phương, căn cứ tình hình, các địa phương sẽ quyết định lương thưởng, biên chế… Những thành phố đông dân như Sài Gòn sẽ tuyển đủ lực lượng cảnh sát cần dùng thay vì đưa thanh niên xung phong ra điều hành giao thông. Ở những địa phương mà người dân sống thân thiện với nhau họ có thể thay cảnh sát bằng vài “hiệp sỹ”.
Quân đội chỉ được xây dựng theo nguyên tắc chính quy, tinh nhuệ, chỉ được dùng để bảo vệ nhân dân và từng tấc đất của ông cha. Cho dù ai nắm quyền thì quân đội cũng chỉ trung thành với tổ quốc. Quân đội mà lo bảo vệ Đảng hơn bảo vệ biên cương, thì khi chính trị trong nước không ổn định, Trung Quốc sẽ thừa cơ chiếm đảo.
 Theo mô hình này, chỉ có một người thực sự là nguyên thủ quốc gia thay vì có tới 4 nhân vật được hưởng chế độ nguyên thủ như đang áp dụng. Trừ các vấn đề liên quan đến công tác Đảng do Ban Bí thư đảm trách, các quyết định của Bộ Chính trị đồng thời là quyết định của nội các. Không cần qua giai đoạn “thể chế hóa” mới có giá trị thi hành. Nó không chỉ chịu sự giám sát của Ban chấp hành Trung ương mà còn chịu sự giám sát của các đại biểu độc lập. Chức năng không bị trùng lắp, quy trình ban hành các quyết định được rút ngắn, địa chỉ để quy trách nhiệm cũng rõ. Vai trò lãnh đạo của Đảng cũng tương đối chính danh vì các nhà lãnh đạo chỉ có thể trở thành Tổng Bí thư, ủy viên Bộ chính trị, ủy viên Trung ương sau khi được “nhân dân phúc quyết”.
 Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu. Đừng nhìn các mâu thuẫn xã hội dựa trên các báo cáo hay dựa trên mấy câu leo lẻo của những người vẫn tới tặng quà: “Anh lãnh đạo chúng em làm ăn được”. Nhân dân đang bị nhũng nhiễu. Cái ác đang hoành hành. Nhiều “chức năng” đang phải vận hành bằng tiền bạc trong khi đa số nhân dân thì thiếu tiền nhất là tiền để mưu cầu công lý. Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.
Nguồn: blog Quê Choa của Nhà văn Nguyễn Quang Lập

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

MỘT Ý KIẾN ĐÁNG QUAN TÂM VỀ CÙ HUY HÀ VŨ

Giáo sư Trần Chung Ngọc sinh năm 1931 tại Hà Nội, từng phục vụ trong quân đội Sài Gòn 8 năm. Ông nhận học bổng du học tại Mỹ vào năm 1967. Năm 1972 ông trở về giảng dạy tại một số trường đại học ở Sài Gòn. Đến năm 1975 ông sang Mỹ làm nghiên cứu sinh rồi định cư tại Mỹ cho đến nay. Thời gian qua, GS Ngọc đã có nhiều bài viết phân tích một cách sâu sắc, khách quan, phê phán Mỹ, phương Tây và một số tác giả hải ngoại lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam, trong đó có bài viết dưới đây.

Về mấy nhận định của Cù Huy Hà Vũ
Tôi đã đọc khá nhiều về Cù Huy Hà Vũ trên những diễn đàn thông tin ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Lẽ dĩ nhiên những người hành nghề chống Cộng ở hải ngoại lại có dịp hoan hô, ủng hộ những lời tuyên bố của Mark Toner, HRW, RFA, RFI, Liên hiệp châu Âu… để lên án Nhà nước về vụ xử “Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ”. Sau đây tôi muốn nói về vài nhận định của ông Cù Huy Hà Vũ:
Ông Vũ phát ngôn: “Không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước vẫn cứ đến với người Việt Nam như lịch sử đã minh chứng trong suốt 2.000 năm qua… Chắc chắn Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ không phải là Đảng Cộng sản Việt Nam hay Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khi tiến hành thành công các cuộc chiến tranh đánh đuổi quân xâm lược phong kiến Trung Hoa để giành độc lập dân tộc hay để thống nhất đất nước”.
Tôi nghĩ rằng, đầu óc của Cù Huy Hà Vũ quả thật thuộc loại bất bình thường. Tất cả những nhân vật lịch sử của Việt Nam ông Vũ nêu trên đều thuộc những thời đại Đảng Cộng sản chưa ra đời, vậy tất nhiên họ “không phải là Đảng Cộng sản”. Nhưng thử hỏi, không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì chế độ nô lệ thực dân Pháp có cáo chung không? Trong hơn 80 năm dưới sự đô hộ của Pháp, đã có biết bao cuộc nổi dậy của những người Việt Nam yêu nước chống Pháp, nhưng có ai thành công không? Từ phong trào Cần Vương, Hoàng Hoa Thám… cho đến Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, những người yêu nước trên đã đạt được những kết quả gì trong công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp? Lê Lợi, Nguyễn Huệ… đâu, sao không thấy, mà chỉ thấy có Hồ Chí Minh, theo gương các tiền nhân anh hùng của Việt Nam là thành công đánh đuổi được thực dân Pháp. Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước vẫn cứ đến với người Việt Nam bằng cách nào, phải chờ bao nhiêu lâu nữa, hay nằm hút thuốc phiện, há miệng chờ sung, hay chờ cho một Lê Lợi, Nguyễn Huệ khác, không phải là Cộng sản xuất hiện? Đừng có quên là Pháp trở lại với mục đích tái lập nền đô hộ ở Việt Nam với 80% quân phí do Mỹ yểm trợ. Và cũng đừng quên là Mỹ đã đơn phương dựng lên một chế độ bù nhìn Công giáo Ngô Đình Diệm ở Việt Nam, không chịu thi hành điều khoản Tổng tuyển cử vào năm 1956 trong Hiệp định Geneva.

Cù Huy Hà Vũ tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
Ông Cù Huy Hà Vũ có vẻ như không hiểu mấy về lịch sử cận đại Việt Nam. Ông không biết rằng, cuộc chiến thắng chống ngoại xâm của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã gây nên tiếng vang trên thế giới như thế nào. Ông công nhận những cuộc chiến thắng quân Tàu ngoại xâm của Việt Nam trong những thời trước nhưng lại muốn phủ nhận công chiến thắng quân ngoại xâm Pháp rồi Mỹ của Đảng Cộng sản Việt Nam… Không thể dựa vào những chuyện của chính quyền ngày nay mà ông không đồng ý để phủ nhận những công trên của Đảng Cộng sản…
Ông Vũ còn nói: “Khi nói “giải phóng miền Nam” thì không thể không xác định giải phóng miền Nam khỏi ai, khỏi cái gì. Chắc chắn không phải “giải phóng miền Nam” khỏi sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30-4-1975, quân đội Cộng sản nhận sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh, đó là chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi miền Nam từ năm 1973 theo Hiệp định Paris”.
Nếu ông Cù Huy Hà Vũ không hiểu “giải phóng miền Nam” là giải phóng khỏi ai và giải phóng khỏi cái gì thì không nên đặt thành vấn đề xác định, vì ông còn thiếu một thắc mắc là “giải phóng miền Nam” để làm gì? Hoa Kỳ chưa bao giờ chiếm đóng miền Nam, chỉ dựng lên miền Nam rồi khi tình hình nguy ngập, đổ nửa triệu quân vào đánh giúp miền Nam để miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản và khi thấy không thể thắng được và không còn muốn giúp nữa thì Hoa Kỳ tháo chạy (từ của Nguyễn Tiến Hưng) hay văn vẻ lịch sự hơn là “rút lui trong danh dự”. Thực tế là trong miền Nam còn có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và đa số người dân miền Nam ủng hộ mặt trận này, nếu không, chẳng bao giờ Cộng sản có thể thành công “giải phóng miền Nam” được. Lẽ dĩ nhiên một số người ở miền Nam, vì hoàn cảnh đất nước nên dù muốn dù không cũng thuộc miền Nam, trong đó có tôi, chẳng muốn mình được giải phóng. Nhưng không muốn là một chuyện mà chuyện thống nhất quốc gia để hợp với lòng dân, ít ra là đa số người dân, lại là một chuyện khó tránh, vì người dân không muốn cảnh Trịnh – Nguyễn phân tranh trong lịch sử tái diễn. Hơn nữa, Cộng sản đã lãnh đạo người dân kháng chiến chống Pháp, tốn bao xương máu, đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, ký Hiệp định Geneva với hy vọng thống nhất đất nước qua giải pháp chính trị Tổng tuyển cử năm 1956, nhưng bị Mỹ dựng lên miền Nam, cường quyền thắng công lý, không thi hành điều khoản Tổng tuyển cử vào năm 1956 quy định trong Hiệp định Geneva. Cộng sản có cách nào hơn để đi đến thống nhất đất nước, chẳng lẽ tốn bao xương máu để cho miền Nam trù phú ở trong tay một “chí sĩ” Công giáo nằm trong các tu viện Công giáo suốt trong thời gian toàn dân kháng chiến chống Pháp hay sao? “Giải phóng miền Nam” là câu tuyên truyền của Cộng sản để thực hiện thống nhất đất nước. Cho nên câu hỏi của ông Vũ chứng tỏ là ông không biết mấy về cuộc chiến ở Việt Nam. Tôi cũng là người đã tháo chạy trước ngày 30/4/1975 vài ngày, nhưng với lương tâm trí thức, chẳng thể nào phủ nhận diễn biến lịch sử nó là như vậy.

Vài lời kết luận
Tôi biết rằng, viết ra những ý kiến cá nhân ngược dòng dư luận hải ngoại thể nào cũng lại bị chụp vài cái mũ trên đầu. Nhưng chẳng sao, vì những kẻ buôn nón cối thường không đủ khả năng để thảo luận những vấn đề tôi viết trong bài. Nếu người nào đọc bài này mà cho rằng tôi bênh vực chính quyền Việt Nam hoặc lên án Cù Huy Hà Vũ thì người đó chưa bao giờ hoạt động trong lĩnh vực học thuật.
Tôi ở trong quân đội quốc gia cho nên năm 1954 đã di cư vào Nam. Tôi đã phục vụ trong quân lực của miền Nam tổng cộng là 8 năm rưỡi và đã phục vụ trong ngành Giáo dục Việt Nam cho đến ngày cuối. Tôi nghĩ mình ở đâu, làm đầy đủ bổn phận công dân ở đấy là đủ, không có gì phải hổ thẹn với lương tâm. Nhưng cuộc chiến Quốc – Cộng đã ngưng 36 năm trước đây rồi, cho nên trong đầu óc tôi không còn Quốc – Cộng mà chỉ còn người Việt Nam. Khi nghiên cứu về lịch sử thì chúng ta phải hiểu rõ là những sự thật lịch sử thì không có tính cách bè phái hay Quốc – Cộng. Và dù những sự thật đó có làm chúng ta đau lòng cách mấy chúng ta cũng phải chấp nhận. Đó là sự lương thiện trí thức của con người.
Viết bài này, tôi chẳng bênh vực chính quyền mà cũng chẳng lên án Cù Huy Hà Vũ mà tôi chỉ nghiên cứu sự việc qua những thông tin trên Internet, tổng hợp, phân tích và đưa ra những ý kiến dựa trên những thông tin và những sự kiện chứ không dựa trên cảm tính cá nhân. Nhưng tôi cần phải nói là tôi chống những sự can thiệp của bên ngoài, bất cứ từ đâu, vào nội bộ Việt Nam. Không phải chỉ vì tôi đã thấy rõ bản chất của chính sách đối ngoại của Mỹ, thực chất của những tổ chức như RFA, HRW, RFI… mà lý do chính là vì, như trên tôi đã nói, tôi là một công dân Mỹ gốc Việt Nam, mà đã là gốc Việt Nam thì tôi nghĩ, những vấn nạn của Việt Nam hãy để cho người Việt Nam tự giải quyết, không cần đến những sự can thiệp trịch thượng và đạo đức giả vào nội bộ Việt Nam của bất cứ ai hay thế lực nào khác.
Tôi chẳng có ác cảm gì với những cá nhân hay tổ chức chuyên can thiệp vào những chuyện nội bộ Việt Nam, vì đó là mục đích chính trị của họ. Tôi cũng chẳng có ác cảm gì với Cù Huy Hà Vũ và những người ở trong nước tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, vì đó là quyền tự do của họ. Vấn đề là ở chỗ thẩm quyền của những tổ chức bên ngoài để can thiệp vào chuyện nội bộ Việt Nam và hình thức tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền của những người trong nước. Hung hăng chửi bậy trong Tòa như Nguyễn Văn Lý thì không phải là tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Thắp nến cầu nguyện với búa, kìm và xà beng ở Tòa Khâm Sứ thì không phải là hình thức tranh đấu hợp pháp. Tuyên ngôn Phục Linh không phải là quyền tự do ngôn luận. Những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ở trong nước mà dựa thế nước ngoài là tranh đấu một cách rất vụng về. Mục đích tranh đấu là đúng, nhưng không thể tự lực mà phải nhờ đến người ngoài là phương thức tranh đấu không có hiệu quả, vì chính quyền Việt Nam và đa số người dân Việt Nam, theo truyền thống lịch sử, rất nhạy cảm đối với sự can thiệp của nước ngoài.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta có bao giờ nghĩ rằng các cường quốc Tây phương thực tâm vì nhân quyền mà ủng hộ sự tranh đấu cho nhân quyền của chúng ta hay không? Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thôi không tranh đấu cho nhân quyền nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tạo được uy tín, được sự ủng hộ của người dân mà không có bóng dáng của bất cứ một cá nhân hay tổ chức nào ở ngoài, chỉ như vậy mới có thể đi đến thành công.
Dựa vào thế lực ngoại quốc để tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam, hoặc liên hệ truyền thông với những tổ chức ở nước ngoài mà mọi người đều biết là không có thiện cảm với chính quyền Việt Nam, tôi cho là những hình thức tranh đấu không có mấy hiệu quả, hơn nữa có thể gây nên những phản tác dụng đối với chính quyền Việt Nam hiện thời, một chính quyền rất nhạy cảm trước mọi hành động có tính cách xen vào nội bộ Việt Nam. Kết quả những công cuộc vận động ngoại quốc để làm áp lực đối với chính quyền Việt Nam sẽ không mang lại kết quả khả quan nào, vì những người Việt yêu nước, bất kể là chính kiến khác nhau như thế nào, đều không thể ủng hộ đường lối nhờ sự can thiệp của người ngoại quốc vào những chuyện bất đồng ý kiến giữa người Việt với nhau. Nhìn vào quá khứ, chúng ta thấy đã có biết bao nghị quyết nọ kia, kể cả nghị quyết của Liên hiệp Âu châu và cả danh sách CPC, dự luật về nhân quyền cho Việt Nam của Hạ viện Mỹ, nhưng kết quả là bao nhiêu, chính quyền Việt Nam lùi một bước tiến hai bước và cứ làm theo ý. Tại sao? Vì chính quyền Việt Nam thừa biết rằng, tất cả chỉ là những tài liệu chính trị chống Việt Nam và cũng thừa biết chiêu bài nhân quyền của các cường quốc Âu Mỹ là đạo đức giả, có tính cách lưỡng chuẩn (double standard), thường để che đậy những mưu đồ chính trị sau bức bình phong nhân quyền. Những cuộc vận động ngoại nhân để làm áp lực đối với chính quyền Việt Nam mà không nghĩ tới những hậu quả nghiêm trọng có thể xâm phạm đến trật tự, an ninh và chủ quyền quốc gia, là những bước đi chính trị vụng về, thiếu trí tuệ, không nghĩ đến truyền thống yêu nước của người Việt Nam.
Ông Hà Vũ tuyên bố: “Đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, công bằng và văn minh”. Đây là một câu nói vu vơ, ai nói cũng được. Là một trí thức đã được đào tạo bài bản ở Tây, ông Vũ phải chỉ ra một con đường là Việt Nam sẽ đi đến đa đảng và dân chủ như thế nào, đa đảng là bao nhiêu đảng, điều kiện để lập đảng là như thế nào, thế nào mới có thể gọi là một đảng, cá nhân nào, tổ chức nào có quyền lập đảng và trong bao lâu hay ngay lập tức với những luận cứ chặt chẽ về tình trạng xã hội hiện nay, về hình thức dân chủ, về giới hạn của nhân quyền, về giới hạn của tự do ngôn luận, về tinh thần trách nhiệm của người dân trước luật pháp, về trình độ dân trí, có ngoại quốc nhúng tay vào không…
Ai cũng biết tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, dân chủ là tốt nhưng vấn đề là tự do tới mức nào và hình thức dân chủ ra sao. Không thể đi tới dân chủ mà không có sửa soạn. Làm sao để người dân thấm nhuần được ý thức một nền dân chủ riêng cho Việt Nam, trách nhiệm người dân trong thể chế dân chủ, bổn phận người dân góp sức cho dân chủ… Tất cả đều phải đi qua một quá trình giáo dục cần thời gian và tất cả đều phải rõ ràng trong giai đoạn sửa soạn tiến tới dân chủ để tránh những hành động vô cương vô pháp gây hỗn loạn trong xã hội, cảnh lạm dụng tự do ngôn luận, lạm dụng quyền tự do tôn giáo, hoặc cảnh “lắm thầy thối ma”. Đa đảng và dân chủ nghe hay lắm! Nhưng không đơn giản như chỉ cần tuyên bố đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ. Mặt khác, trên thế giới ngày nay tôi đố ông Vũ tìm đâu ra một quốc gia thực sự dân chủ.
Tôi rất đồng cảm với quan niệm của Lê Dọn Bàn trong bài “Dân chủ và Đạo Kitô ở Việt Nam”.
“Dân chủ là thành quả của những vận động lâu dài và phải có sự tham dự của toàn bộ dân chúng trong một quốc gia và từ cả hai bộ phận cầm quyền và không cầm quyền – dĩ nhiên là không thể nhập cảng, không đến từ bất cứ áp lực nào bên ngoài và nếu có gây dựng ở trong, càng không thể đến từ những niềm tin tôn giáo. Dân chủ là hoa nở từ trí tuệ – hay thu hẹp hơn – ý thức chính trị xã hội – của dân chúng được phát triển – khi dân chúng thực sự đạt đến một trình độ ý thức trưởng thành, tự mình thấm nhuần được những quan niệm xã hội và chính trị sáng suốt, thuận tình hợp lý với cộng đồng của mình. Thêm nữa, không phải chỉ vài dăm bông hoa, nhưng cả một mùa hoa và cũng phải hết sức chăm sóc để sẽ nở mãi, qua năm tháng. Trong tình trạng Việt Nam, dân chủ phải đi đôi với dân trí và có lẽ điều này làm chúng ta nhớ kinh nghiệm của Phan Chu Trinh, một người rất sáng suốt và có lý tưởng, cùng can đảm, đã đi trước thời đại của ông”. (http://sachhiem.net)
Cũng như quan niệm của Nguyễn Tâm Bảo trên “Đàn Chim Việt”: “Việc dân chủ hóa phải là việc của người dân trong nước, xuất phát từ nhu cầu của chính họ, do chính họ đảm nhận trọng trách, do chính họ tiến hành, chứ không cần bất cứ sự trợ lực nào từ bên ngoài”.
Ông Cù Huy Hà Vũ cũng có vài hành động tốt, thí dụ như kiện Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế về quyết định cấp phép đầu tư xây dựng Dự án Khách sạn Life Resort trên đồi Vọng Cảnh. Nhưng phần lớn là ông đi kiện lung tung mà không suy nghĩ và lang bang vào những chuyện không rõ ràng như đòi dân chủ, đa nguyên đa đảng mà không đưa ra một mô thức nào cho dân chủ, đa nguyên đa đảng thích hợp với hoàn cảnh chính trị Việt Nam ngày nay và mặt khác những chuyện làm lung tung của ông chứng tỏ trình độ hiểu biết của ông còn thiếu sót nhiều cho nên đã có phản tác dụng, làm loãng đi giá trị của những việc làm có ích của ông.
Giáo sư Trần Chung Ngọc

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC LÊN TIẾNG VỀ VIỆC DÂN TA... KHÔNG BIẾT SỬ TA



Nhà văn Nguyên Ngọc


 Giáo sư Văn Như Cương viết: “Trong kì thi đại học vừa qua, điểm thi môn Sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ 1 thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy Sử và học Sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh…”
Thưa giáo sư Cương, ông nhầm rồi! Có một nhà quản lý giáo dục, mà là người đứng đầu, có trách nhiệm lớn nhất trong các nhà quản lý giáo dục, không hề “đau đầu” như giáo sư tưởng và tin. Trái lại, với cái đầu vô cùng thanh thản, hết sức vui vẻ thoải mái, tuyệt đối bình tĩnh, ông ấy nói: “Đấy là chuyện bình thường”. Chuyện nhỏ xíu ấy mà, gì mà rối lên thế! Thậm chí thấp vậy chứ thấp nữa, chẳng hạn toàn bộ thí sinh thi sử đều bị điểm không, cũng chẳng lay chuyển được sự bình tâm của ông, bởi vì ông đã có một phép mầu, ông đã tìm ra một thủ phạm tuyệt đối và tuyệt vời: Thời đại! Chắc như đinh đóng cột và với một sự liều lĩnh khó tin, ông tuyên bố trước những người đối thoại: “Điểm Lịch sử thấp là vấn đề của thời đại. Các bạn hãy nhìn rộng ra nhiều nước, không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng ấy… Có những thứ do thời đại, do xu thế phát triển tác động. Nhìn kỹ một chút các bạn sẽ thấy môn lịch sử kém thu hút, điểm Lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động…” Nghĩa là ngoài “thời đại”, ông còn tìm ra thêm được mấy thủ phạm đích đáng nữa, đều là con đẻ của cái “thời đại” chết tiệt kia: “xu thế phát triển”, “thế hệ này”, “cách mạng khoa học công nghệ”, “sự biến đổi đòi hỏi của thị trường lao động” v.v…
Liều lĩnh khó tin, bởi xin hỏi: nhờ ông “nhìn rộng ra” và chỉ cho biết, dù chỉ một ví dụ thôi, với tất cả các thủ phạm như ông đã dễ dàng phát hiện, có nơi nào trên toàn thế giới có kết quả thi môn lịch sử thê thảm như vừa rồi trong nền giáo dục do ông đảm trách trước quốc dân?
Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc.
Trước hết, chính các thứ thời đại, xu thế, thế hệ, cách mạng khoa học công nghệ, biến đổi thị trường lao động… như ông vừa kể lại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng  khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Xin nêu một bằng chứng: chính là đứng trước những vấn đề như vậy, mà cách đây mấy năm trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ “thời đại” nào, thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người, cho sự phát triển bền vững, cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền. Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi. Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục suy đồi. Và bế tắc. Buồn thay đó chính là tình trạng thực của nền giáo dục chúng ta hiện nay. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội, còn những người đứng đầu ngành giáo dục thì bình chân như vại. Tất nhiên vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu quả nó định đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì, vì lý do “thời đại” càng không, có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Đấy là thảm họa, bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi các giá trị tinh thần và nhân văn chẳng còn đáng xu nào! Một thảm họa xã hội!
 Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng” – . Vì sao? Rất đơn giản, và chắc cũng không ít người biết rõ nhưng vì lý do này khác đã không nói ra. Thôi thì cho tôi nói thật vậy: vì đó là những môn bị chính trị hóa nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Rất cần thiết và cũng có thể rất hay. Học chính trị là quá cần thiết chứ, và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Cũng không phải là “thống soái” để cho tất cả những cái khác, môn khác phải châu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người. Nói trắng ra, hiện nay người ta chán, ghét học văn, học sử, là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác. Một ví dụ: có lần tôi đã nói với một người hiện có vị trí rất cao trong lãnh đạo đất nước rằng tất cả các đề thi sử tốt nghiệp và thi vào đại học gần 40 năm nay đều chỉ hỏi về lịch sử Việt Nam từ sau năm 1930. Cứ như chỉ từ năm 1930 nước ta mới có cái gọi là lịch sử, còn trước đó … chỉ là tiền sử, là thời man dã, người còn là khỉ vượn gì đó thôi chứ chưa thành người! Ông ấy ngạc nhiên hỏi thật thế sao? Thì anh cứ kiểm tra  mà xem, tôi bảo. Không biết sau đó ông ấy có kiểm tra không, nhưng rồi không thấy ông nói gì nữa … Học sử học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.
Ông Bộ trưởng hỏi: Thì tin học có gì hấp dẫn đâu nào, tại sao người ta vẫn lao vào học? Một là, hấp dẫn quá chứ, ít nhất nó cũng cho ta thấy con người có thể sáng tạo ra những thứ thông mình đến chừng nào, chẳng thú vị sao? Nhưng còn có điều quan trọng hơn: nó không bị chính trị hóa, không dễ gì chính trị hóa nó như văn và sử.
Vậy đó, sự thật! Còn e dè, sợ “nhạy cảm”, tránh né nhau, kiêng sợ những lực lượng vô hình như thần thánh, không dám nói thật ra thì có thay đổi cách học cách dạy đến mấy, khéo sang năm môn sử lại 99,99% dưới điểm 5 cho mà xem. Và văn cũng không hơn đâu. Nhìn thẳng, nói thẳng một lần cho xong đi, để mà còn tiến lên cùng thiên hạ, để có một nền giáo dục thực sự lành mạnh và hiệu quả, đào tạo con người ra người, cho một đất nước thật sự văn minh.
Gần đây giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. Giáo sư Hoàng Tụy thì nói: Phải “thế tục hóa”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở chấu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hóa giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kìm chế lâu dài của Nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tụy trong ý nghĩa đó.
 Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này: Ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité  de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy Ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa Lịch ra sử dụng trong Công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tùy tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử tuyệt nhiên cũng không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi như lời ông Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong “thời đại” này, cái thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới. Đặc biệt hôm nay, khi vận mệnh Tổ quốc một lần nữa lại đứng trước thử thách lớn.

ÔNG DƯƠNG DANH DY BẢO: TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM CHƯA ĐỦ THÔNG TIN?

“Một số người Việt trong nước chưa hiểu hết các sự kiện đã và đang xảy ra, kiều bào thiếu thông tin. Không chỉ vậy, khá đông người Trung Quốc đang bị phương tiện truyền thông nước họ “đánh lừa” nên hiểu sai về Việt Nam”.


Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy. Ảnh IE
Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy. Ảnh IE
Bài viết về Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy rất quan tâm. Ông cho biết, vừa qua ông đã sưu tâm được thêm một tư liệu rất thú vị:

“Đó là một bài báo đăng trên Nhân dân Nhật báo, cơ quan chính thức của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1953. Bài báo năm đó viết rõ ràng là Quần đảo Senkaku (theo cách gọi của Nhật Bản) hay quần đảo Điếu Ngư (theo cách gọi của Trung Quốc) là thuộc lãnh thổ Nhật Bản. Có thể hiểu, vì muốn lôi kéo Nhật Bản chống Mỹ nên Trung Quốc đã viết như vậy. Nhưng bây giờ, vì lợi ích của mình, Trung Quốc đã tuyên bố đảo Senkaku (hay đảo Điều Ngư) thuộc lãnh thổ của họ. Tôi sẽ công bố toàn văn bài báo vào một thời điểm thích hợp”.

Nhà nghiên cứu nghiêm tục nói: “Theo một nguồn tư liệu mà tôi biết, đã có một lần cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích như sau: ‘Ngay từ lúc đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thấy trước, nhiều khả năng Mỹ sẽ mang quân ra miền Bắc. Nói như vậy để ngăn chặn Mỹ không dùng đường biển tấn công miền Bắc Việt Nam".

Như thế là, Việt Nam đã làm như cách trước đó Trung Quốc đã làm với quần đảo Điếu Ngư (hay đảo Senkaku). Nhưng khác với Trung Quốc, hành động của Việt Nam dựa trên cơ sở tin tưởng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em. Thời đó, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc tiếp quản đảo Bạch  Long Vĩ năm 1954 và Trung Quốc đã trao trả đúng hạn năm 1956. Ngoài ra, nên nhớ rằng, trong những năm tháng đẹp đẽ ấy, Trung Quốc còn rất nhiệt tình giúp miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế sau năm 1954, đón nhận nhiều học sinh Việt Nam sang Trung Quốc học tập… Không phải tự nhiên mà câu thơ: “Bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình anh em” đã ra đời vào thời điểm này.

“Hôm nay, tôi chỉ muốn nói thêm về bối cảnh lịch sử như thế để người dân trong nước, ngoài nước và thế giới hiểu hơn” – ông Dương Danh Dy nói.
 
Tri thức Việt kiều chưa khai thác hết? Tại truyền thông Việt Nam chưa đưa đủ thông tin!

Ông và chúng tôi đều nhắc đến nhiều ý kiến góp ý , tranh luận gần đây của trí thức trong và ngoài nước về câu chuyện biển Đông...Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam chưa tận dụng hết  tri thức Việt kiều. Quan điểm của ông như thế nào?

Sự ít nói của truyền thông cũng là một trong những lý do khiến chúng ta chưa tận dụng hết mỏ vàng tri thức Việt kiều và chưa làm cho bà con thấy hết vấn đề.

Thứ nhất, những người Việt ở nước ngoài gồm những người định cư từ lâu đời, những người sang sống ở nước ngoài từ sau năm 1975. Họ thiếu thông tin, không thấy được sự thay đổi của đất nước, đặc biệt từ sau đổi mới năm 1986. Nhiều người ở nước ngoài vẫn nhìn chính thể bằng cái nhìn chưa thỏa đáng. Tôi có họ hàng và quen biết một số nhân sĩ trí thức người Mỹ gốc Việt nên đã cảm thấy điều đó.

Thứ hai, cũng do thiếu thông tin nên một số bà con nhìn cách Việt Nam ứng xử với Trung Quốc chưa cập nhật. Họ không thấy hết những khó khăn khi sống cạnh một anh hàng xóm vừa mạnh, vừa giàu, vừa ác ý, xấu tính mà không thể chuyển nhà đi đâu được”.

Theo ông, làm thế nào để cải thiện điều này?

Tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước. Đây là thời điểm chúng  ta có thể gặp nhau.

Trước năm 1975, có hai chính quyền, hai chính thể. 36 năm là thời gian đủ để xòa nhòa nhiều chuyện. Giờ nước Việt Nam thống nhất là của chung, của mọi người Việt Nam. Thế hệ Việt kiều trẻ đang thay thế dần thế hệ cũ, họ hiểu biết rộng mở hơn, có tình cảm và hướng về quê hương. Chúng ta càng cần phải thông tin cho họ hiểu.

Cần phải tìm hiểu lẫn nhau, người ngoài nước tìm hiểu trong nước, truyền thông trong nước phải để người bên ngoài thấy sự tiến bộ, những  thành tựu to lớn ở trong nước. Hai bên gặp nhau ở tình yêu nước, mong muốn đất nước giàu mạnh lên, chống được áp lực ngoại bang.

Nhìn chung, chủ trương của Đảng, Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài là tốt. Chỉ cần có sự vận dụng bằng phương pháp thuyết phục, sẽ tập hợp được lực lượng, tận dụng được sức mạnh, đặc biệt là tri thức khoa học, kỹ thuật và vốn đầu tư của kiều bào.
 
Nhiều phương tiện truyền thông Trung Quốc nói sai về Việt Nam

Mới đây, cựu Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc tới chuyện truyền thông Trung Quốc thông tin không đúng cho nhân dân Trung Quốc về đường 9 đoạn, coi đó là chủ quyền của  Trung Quốc. Ông nghĩ thế nào về điều này?

Mới đây, một cán bộ ngoại giao đã về hưu đến bảo: “Tôi chịu anh. Anh đọc những bài báo, bài viết trên các trang báo, trạng mạng Trung Quốc thấy họ nói không đúng về ta như vậy mà anh chịu được. Thần kinh vững đấy!”.

Tôi đã trả lời, cái nghiệp này phải tỉnh táo. Phải phân tích tại sao họ viết sai về mình như vậy? Khách quan mà nói, mấy tờ Nhân dân Nhật Báo, Quân Giải Phóng, Thanh Niên Trung Quốc, những tờ báo chính thống của Trung Quốc gần đây hầu như  không có bài viết nào nói không đúng về Việt Nam. Nhưng tờ Hoàn Cầu Thời báo, các mạng chính thức khác của Trung Quốc mấy chục năm nay đã nói sai, nói xấu Việt Nam rất nhiều. Một số sách lịch sử, bách khoa thư, sáng tác văn học… cũng như vậy. Ví dụ, họ đổ hết lỗi cho Việt Nam về năm 1979, cho là Việt Nam đang chiếm đóng đóng quần đảo Trường Sa của họ.

Khá đông người Trung Quốc đang bị truyền thông nước họ "đánh lừa" trong khi  truyền thông Việt Nam một thời gian dài hầu như im lặng.

Lại một lần nữa phải hỏi, chúng ta nên làm thế nào, thưa ông?

Phải nói rõ sự thật với những người Trung Quốc đang hiểu sai Việt Nam, đặc biệt, phải giúp các bạn thanh niên, học sinh Trung Quốc tỉnh ngộ. Việt Nam  nên có những trang mạng bằng tiếng Trung Quốc, tăng thêm giờ phát thanh tiếng Trung, nói cho người Trung Quốc biết về Hoàng Sa, Trường Sa và những bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo này, làm cho họ hiểu đâu là chủ quyền của họ, đâu là chủ quyền của ta và Trung Quốc phải tôn trọng lợi ích chính đáng của dân tộc Việt Nam.

Quan trọng là, cần phải công khai rõ thông tin cho người dân trong nước, ngoài nước, người Trung Quốc và thế giới hiểu Việt Nam.
 
(Theo Bee.net)