Giáo sư Trần Chung Ngọc sinh năm 1931 tại Hà Nội, từng phục vụ trong quân đội Sài Gòn 8 năm. Ông nhận học bổng du học tại Mỹ vào năm 1967. Năm 1972 ông trở về giảng dạy tại một số trường đại học ở Sài Gòn. Đến năm 1975 ông sang Mỹ làm nghiên cứu sinh rồi định cư tại Mỹ cho đến nay. Thời gian qua, GS Ngọc đã có nhiều bài viết phân tích một cách sâu sắc, khách quan, phê phán Mỹ, phương Tây và một số tác giả hải ngoại lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam, trong đó có bài viết dưới đây.
Về mấy nhận định của Cù Huy Hà Vũ
Tôi đã đọc khá nhiều về Cù Huy Hà Vũ trên những diễn đàn thông tin ở trong nước cũng như ở hải ngoại. Lẽ dĩ nhiên những người hành nghề chống Cộng ở hải ngoại lại có dịp hoan hô, ủng hộ những lời tuyên bố của Mark Toner, HRW, RFA, RFI, Liên hiệp châu Âu… để lên án Nhà nước về vụ xử “Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ”. Sau đây tôi muốn nói về vài nhận định của ông Cù Huy Hà Vũ:
Ông Vũ phát ngôn: “Không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước vẫn cứ đến với người Việt Nam như lịch sử đã minh chứng trong suốt 2.000 năm qua… Chắc chắn Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ không phải là Đảng Cộng sản Việt Nam hay Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khi tiến hành thành công các cuộc chiến tranh đánh đuổi quân xâm lược phong kiến Trung Hoa để giành độc lập dân tộc hay để thống nhất đất nước”.
Tôi nghĩ rằng, đầu óc của Cù Huy Hà Vũ quả thật thuộc loại bất bình thường. Tất cả những nhân vật lịch sử của Việt Nam ông Vũ nêu trên đều thuộc những thời đại Đảng Cộng sản chưa ra đời, vậy tất nhiên họ “không phải là Đảng Cộng sản”. Nhưng thử hỏi, không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì chế độ nô lệ thực dân Pháp có cáo chung không? Trong hơn 80 năm dưới sự đô hộ của Pháp, đã có biết bao cuộc nổi dậy của những người Việt Nam yêu nước chống Pháp, nhưng có ai thành công không? Từ phong trào Cần Vương, Hoàng Hoa Thám… cho đến Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, những người yêu nước trên đã đạt được những kết quả gì trong công cuộc đánh đuổi thực dân Pháp? Lê Lợi, Nguyễn Huệ… đâu, sao không thấy, mà chỉ thấy có Hồ Chí Minh, theo gương các tiền nhân anh hùng của Việt Nam là thành công đánh đuổi được thực dân Pháp. Độc lập dân tộc và thống nhất đất nước vẫn cứ đến với người Việt Nam bằng cách nào, phải chờ bao nhiêu lâu nữa, hay nằm hút thuốc phiện, há miệng chờ sung, hay chờ cho một Lê Lợi, Nguyễn Huệ khác, không phải là Cộng sản xuất hiện? Đừng có quên là Pháp trở lại với mục đích tái lập nền đô hộ ở Việt Nam với 80% quân phí do Mỹ yểm trợ. Và cũng đừng quên là Mỹ đã đơn phương dựng lên một chế độ bù nhìn Công giáo Ngô Đình Diệm ở Việt Nam, không chịu thi hành điều khoản Tổng tuyển cử vào năm 1956 trong Hiệp định Geneva.
Ông Cù Huy Hà Vũ có vẻ như không hiểu mấy về lịch sử cận đại Việt Nam. Ông không biết rằng, cuộc chiến thắng chống ngoại xâm của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã gây nên tiếng vang trên thế giới như thế nào. Ông công nhận những cuộc chiến thắng quân Tàu ngoại xâm của Việt Nam trong những thời trước nhưng lại muốn phủ nhận công chiến thắng quân ngoại xâm Pháp rồi Mỹ của Đảng Cộng sản Việt Nam… Không thể dựa vào những chuyện của chính quyền ngày nay mà ông không đồng ý để phủ nhận những công trên của Đảng Cộng sản…
Ông Vũ còn nói: “Khi nói “giải phóng miền Nam” thì không thể không xác định giải phóng miền Nam khỏi ai, khỏi cái gì. Chắc chắn không phải “giải phóng miền Nam” khỏi sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vì ngày 30-4-1975, quân đội Cộng sản nhận sự đầu hàng của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh, đó là chưa kể Hoa Kỳ đã rút hết quân khỏi miền Nam từ năm 1973 theo Hiệp định Paris”.
Nếu ông Cù Huy Hà Vũ không hiểu “giải phóng miền Nam” là giải phóng khỏi ai và giải phóng khỏi cái gì thì không nên đặt thành vấn đề xác định, vì ông còn thiếu một thắc mắc là “giải phóng miền Nam” để làm gì? Hoa Kỳ chưa bao giờ chiếm đóng miền Nam, chỉ dựng lên miền Nam rồi khi tình hình nguy ngập, đổ nửa triệu quân vào đánh giúp miền Nam để miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng sản và khi thấy không thể thắng được và không còn muốn giúp nữa thì Hoa Kỳ tháo chạy (từ của Nguyễn Tiến Hưng) hay văn vẻ lịch sự hơn là “rút lui trong danh dự”. Thực tế là trong miền Nam còn có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và đa số người dân miền Nam ủng hộ mặt trận này, nếu không, chẳng bao giờ Cộng sản có thể thành công “giải phóng miền Nam” được. Lẽ dĩ nhiên một số người ở miền Nam, vì hoàn cảnh đất nước nên dù muốn dù không cũng thuộc miền Nam, trong đó có tôi, chẳng muốn mình được giải phóng. Nhưng không muốn là một chuyện mà chuyện thống nhất quốc gia để hợp với lòng dân, ít ra là đa số người dân, lại là một chuyện khó tránh, vì người dân không muốn cảnh Trịnh – Nguyễn phân tranh trong lịch sử tái diễn. Hơn nữa, Cộng sản đã lãnh đạo người dân kháng chiến chống Pháp, tốn bao xương máu, đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, ký Hiệp định Geneva với hy vọng thống nhất đất nước qua giải pháp chính trị Tổng tuyển cử năm 1956, nhưng bị Mỹ dựng lên miền Nam, cường quyền thắng công lý, không thi hành điều khoản Tổng tuyển cử vào năm 1956 quy định trong Hiệp định Geneva. Cộng sản có cách nào hơn để đi đến thống nhất đất nước, chẳng lẽ tốn bao xương máu để cho miền Nam trù phú ở trong tay một “chí sĩ” Công giáo nằm trong các tu viện Công giáo suốt trong thời gian toàn dân kháng chiến chống Pháp hay sao? “Giải phóng miền Nam” là câu tuyên truyền của Cộng sản để thực hiện thống nhất đất nước. Cho nên câu hỏi của ông Vũ chứng tỏ là ông không biết mấy về cuộc chiến ở Việt Nam. Tôi cũng là người đã tháo chạy trước ngày 30/4/1975 vài ngày, nhưng với lương tâm trí thức, chẳng thể nào phủ nhận diễn biến lịch sử nó là như vậy.
Vài lời kết luận
Tôi biết rằng, viết ra những ý kiến cá nhân ngược dòng dư luận hải ngoại thể nào cũng lại bị chụp vài cái mũ trên đầu. Nhưng chẳng sao, vì những kẻ buôn nón cối thường không đủ khả năng để thảo luận những vấn đề tôi viết trong bài. Nếu người nào đọc bài này mà cho rằng tôi bênh vực chính quyền Việt Nam hoặc lên án Cù Huy Hà Vũ thì người đó chưa bao giờ hoạt động trong lĩnh vực học thuật.
Tôi ở trong quân đội quốc gia cho nên năm 1954 đã di cư vào Nam. Tôi đã phục vụ trong quân lực của miền Nam tổng cộng là 8 năm rưỡi và đã phục vụ trong ngành Giáo dục Việt Nam cho đến ngày cuối. Tôi nghĩ mình ở đâu, làm đầy đủ bổn phận công dân ở đấy là đủ, không có gì phải hổ thẹn với lương tâm. Nhưng cuộc chiến Quốc – Cộng đã ngưng 36 năm trước đây rồi, cho nên trong đầu óc tôi không còn Quốc – Cộng mà chỉ còn người Việt Nam. Khi nghiên cứu về lịch sử thì chúng ta phải hiểu rõ là những sự thật lịch sử thì không có tính cách bè phái hay Quốc – Cộng. Và dù những sự thật đó có làm chúng ta đau lòng cách mấy chúng ta cũng phải chấp nhận. Đó là sự lương thiện trí thức của con người.
Viết bài này, tôi chẳng bênh vực chính quyền mà cũng chẳng lên án Cù Huy Hà Vũ mà tôi chỉ nghiên cứu sự việc qua những thông tin trên Internet, tổng hợp, phân tích và đưa ra những ý kiến dựa trên những thông tin và những sự kiện chứ không dựa trên cảm tính cá nhân. Nhưng tôi cần phải nói là tôi chống những sự can thiệp của bên ngoài, bất cứ từ đâu, vào nội bộ Việt Nam. Không phải chỉ vì tôi đã thấy rõ bản chất của chính sách đối ngoại của Mỹ, thực chất của những tổ chức như RFA, HRW, RFI… mà lý do chính là vì, như trên tôi đã nói, tôi là một công dân Mỹ gốc Việt Nam, mà đã là gốc Việt Nam thì tôi nghĩ, những vấn nạn của Việt Nam hãy để cho người Việt Nam tự giải quyết, không cần đến những sự can thiệp trịch thượng và đạo đức giả vào nội bộ Việt Nam của bất cứ ai hay thế lực nào khác.
Tôi chẳng có ác cảm gì với những cá nhân hay tổ chức chuyên can thiệp vào những chuyện nội bộ Việt Nam, vì đó là mục đích chính trị của họ. Tôi cũng chẳng có ác cảm gì với Cù Huy Hà Vũ và những người ở trong nước tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền, vì đó là quyền tự do của họ. Vấn đề là ở chỗ thẩm quyền của những tổ chức bên ngoài để can thiệp vào chuyện nội bộ Việt Nam và hình thức tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền của những người trong nước. Hung hăng chửi bậy trong Tòa như Nguyễn Văn Lý thì không phải là tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Thắp nến cầu nguyện với búa, kìm và xà beng ở Tòa Khâm Sứ thì không phải là hình thức tranh đấu hợp pháp. Tuyên ngôn Phục Linh không phải là quyền tự do ngôn luận. Những người tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ở trong nước mà dựa thế nước ngoài là tranh đấu một cách rất vụng về. Mục đích tranh đấu là đúng, nhưng không thể tự lực mà phải nhờ đến người ngoài là phương thức tranh đấu không có hiệu quả, vì chính quyền Việt Nam và đa số người dân Việt Nam, theo truyền thống lịch sử, rất nhạy cảm đối với sự can thiệp của nước ngoài.
Nhìn lại lịch sử, chúng ta có bao giờ nghĩ rằng các cường quốc Tây phương thực tâm vì nhân quyền mà ủng hộ sự tranh đấu cho nhân quyền của chúng ta hay không? Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta thôi không tranh đấu cho nhân quyền nữa. Nhưng vấn đề là làm sao tạo được uy tín, được sự ủng hộ của người dân mà không có bóng dáng của bất cứ một cá nhân hay tổ chức nào ở ngoài, chỉ như vậy mới có thể đi đến thành công.
Dựa vào thế lực ngoại quốc để tranh đấu cho nhân quyền ở Việt Nam, hoặc liên hệ truyền thông với những tổ chức ở nước ngoài mà mọi người đều biết là không có thiện cảm với chính quyền Việt Nam, tôi cho là những hình thức tranh đấu không có mấy hiệu quả, hơn nữa có thể gây nên những phản tác dụng đối với chính quyền Việt Nam hiện thời, một chính quyền rất nhạy cảm trước mọi hành động có tính cách xen vào nội bộ Việt Nam. Kết quả những công cuộc vận động ngoại quốc để làm áp lực đối với chính quyền Việt Nam sẽ không mang lại kết quả khả quan nào, vì những người Việt yêu nước, bất kể là chính kiến khác nhau như thế nào, đều không thể ủng hộ đường lối nhờ sự can thiệp của người ngoại quốc vào những chuyện bất đồng ý kiến giữa người Việt với nhau. Nhìn vào quá khứ, chúng ta thấy đã có biết bao nghị quyết nọ kia, kể cả nghị quyết của Liên hiệp Âu châu và cả danh sách CPC, dự luật về nhân quyền cho Việt Nam của Hạ viện Mỹ, nhưng kết quả là bao nhiêu, chính quyền Việt Nam lùi một bước tiến hai bước và cứ làm theo ý. Tại sao? Vì chính quyền Việt Nam thừa biết rằng, tất cả chỉ là những tài liệu chính trị chống Việt Nam và cũng thừa biết chiêu bài nhân quyền của các cường quốc Âu Mỹ là đạo đức giả, có tính cách lưỡng chuẩn (double standard), thường để che đậy những mưu đồ chính trị sau bức bình phong nhân quyền. Những cuộc vận động ngoại nhân để làm áp lực đối với chính quyền Việt Nam mà không nghĩ tới những hậu quả nghiêm trọng có thể xâm phạm đến trật tự, an ninh và chủ quyền quốc gia, là những bước đi chính trị vụng về, thiếu trí tuệ, không nghĩ đến truyền thống yêu nước của người Việt Nam.
Ông Hà Vũ tuyên bố: “Đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, giàu mạnh, công bằng và văn minh”. Đây là một câu nói vu vơ, ai nói cũng được. Là một trí thức đã được đào tạo bài bản ở Tây, ông Vũ phải chỉ ra một con đường là Việt Nam sẽ đi đến đa đảng và dân chủ như thế nào, đa đảng là bao nhiêu đảng, điều kiện để lập đảng là như thế nào, thế nào mới có thể gọi là một đảng, cá nhân nào, tổ chức nào có quyền lập đảng và trong bao lâu hay ngay lập tức với những luận cứ chặt chẽ về tình trạng xã hội hiện nay, về hình thức dân chủ, về giới hạn của nhân quyền, về giới hạn của tự do ngôn luận, về tinh thần trách nhiệm của người dân trước luật pháp, về trình độ dân trí, có ngoại quốc nhúng tay vào không…
Ai cũng biết tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, dân chủ là tốt nhưng vấn đề là tự do tới mức nào và hình thức dân chủ ra sao. Không thể đi tới dân chủ mà không có sửa soạn. Làm sao để người dân thấm nhuần được ý thức một nền dân chủ riêng cho Việt Nam, trách nhiệm người dân trong thể chế dân chủ, bổn phận người dân góp sức cho dân chủ… Tất cả đều phải đi qua một quá trình giáo dục cần thời gian và tất cả đều phải rõ ràng trong giai đoạn sửa soạn tiến tới dân chủ để tránh những hành động vô cương vô pháp gây hỗn loạn trong xã hội, cảnh lạm dụng tự do ngôn luận, lạm dụng quyền tự do tôn giáo, hoặc cảnh “lắm thầy thối ma”. Đa đảng và dân chủ nghe hay lắm! Nhưng không đơn giản như chỉ cần tuyên bố đa đảng là con đường duy nhất để thực hiện một nước Việt Nam thực sự dân chủ. Mặt khác, trên thế giới ngày nay tôi đố ông Vũ tìm đâu ra một quốc gia thực sự dân chủ.
Tôi rất đồng cảm với quan niệm của Lê Dọn Bàn trong bài “Dân chủ và Đạo Kitô ở Việt Nam”.
“Dân chủ là thành quả của những vận động lâu dài và phải có sự tham dự của toàn bộ dân chúng trong một quốc gia và từ cả hai bộ phận cầm quyền và không cầm quyền – dĩ nhiên là không thể nhập cảng, không đến từ bất cứ áp lực nào bên ngoài và nếu có gây dựng ở trong, càng không thể đến từ những niềm tin tôn giáo. Dân chủ là hoa nở từ trí tuệ – hay thu hẹp hơn – ý thức chính trị xã hội – của dân chúng được phát triển – khi dân chúng thực sự đạt đến một trình độ ý thức trưởng thành, tự mình thấm nhuần được những quan niệm xã hội và chính trị sáng suốt, thuận tình hợp lý với cộng đồng của mình. Thêm nữa, không phải chỉ vài dăm bông hoa, nhưng cả một mùa hoa và cũng phải hết sức chăm sóc để sẽ nở mãi, qua năm tháng. Trong tình trạng Việt Nam, dân chủ phải đi đôi với dân trí và có lẽ điều này làm chúng ta nhớ kinh nghiệm của Phan Chu Trinh, một người rất sáng suốt và có lý tưởng, cùng can đảm, đã đi trước thời đại của ông”. (http://sachhiem.net)
Cũng như quan niệm của Nguyễn Tâm Bảo trên “Đàn Chim Việt”: “Việc dân chủ hóa phải là việc của người dân trong nước, xuất phát từ nhu cầu của chính họ, do chính họ đảm nhận trọng trách, do chính họ tiến hành, chứ không cần bất cứ sự trợ lực nào từ bên ngoài”.
Ông Cù Huy Hà Vũ cũng có vài hành động tốt, thí dụ như kiện Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên – Huế về quyết định cấp phép đầu tư xây dựng Dự án Khách sạn Life Resort trên đồi Vọng Cảnh. Nhưng phần lớn là ông đi kiện lung tung mà không suy nghĩ và lang bang vào những chuyện không rõ ràng như đòi dân chủ, đa nguyên đa đảng mà không đưa ra một mô thức nào cho dân chủ, đa nguyên đa đảng thích hợp với hoàn cảnh chính trị Việt Nam ngày nay và mặt khác những chuyện làm lung tung của ông chứng tỏ trình độ hiểu biết của ông còn thiếu sót nhiều cho nên đã có phản tác dụng, làm loãng đi giá trị của những việc làm có ích của ông.
Giáo sư Trần Chung Ngọc
Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011
Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011
NHÀ VĂN NGUYÊN NGỌC LÊN TIẾNG VỀ VIỆC DÂN TA... KHÔNG BIẾT SỬ TA
Nhà văn Nguyên Ngọc
Giáo sư Văn Như Cương viết: “Trong kì thi đại học vừa qua, điểm thi môn Sử thấp một cách thảm hại. Nói chung chỉ độ 4% trên điểm trung bình. Nhiều trường có tới 99% điểm dưới trung bình, mà chủ yếu là điểm 0 và điểm 1. Có trường chỉ 1 thí sinh có điểm 5 là cao nhất. Vẫn biết chuyện dạy Sử và học Sử từ trước đến nay đã có nhiều vấn đề nhức nhối, nhưng một kết quả như năm nay thực sự làm cho xã hội xôn xao, và làm đau đầu các nhà quản lí giáo dục, các nhà sử học, các thầy giáo, học sinh và cha mẹ học sinh…”
Thưa giáo sư Cương, ông nhầm rồi! Có một nhà quản lý giáo dục, mà là người đứng đầu, có trách nhiệm lớn nhất trong các nhà quản lý giáo dục, không hề “đau đầu” như giáo sư tưởng và tin. Trái lại, với cái đầu vô cùng thanh thản, hết sức vui vẻ thoải mái, tuyệt đối bình tĩnh, ông ấy nói: “Đấy là chuyện bình thường”. Chuyện nhỏ xíu ấy mà, gì mà rối lên thế! Thậm chí thấp vậy chứ thấp nữa, chẳng hạn toàn bộ thí sinh thi sử đều bị điểm không, cũng chẳng lay chuyển được sự bình tâm của ông, bởi vì ông đã có một phép mầu, ông đã tìm ra một thủ phạm tuyệt đối và tuyệt vời: Thời đại! Chắc như đinh đóng cột và với một sự liều lĩnh khó tin, ông tuyên bố trước những người đối thoại: “Điểm Lịch sử thấp là vấn đề của thời đại. Các bạn hãy nhìn rộng ra nhiều nước, không chỉ ở Việt Nam có hiện tượng ấy… Có những thứ do thời đại, do xu thế phát triển tác động. Nhìn kỹ một chút các bạn sẽ thấy môn lịch sử kém thu hút, điểm Lịch sử thấp không phải chỉ ở Việt Nam, ở châu Á. Đó là chuyện của thời đại, của thế hệ này, do cách mạng khoa học công nghệ, do sự biến đổi, đòi hỏi của thị trường lao động…” Nghĩa là ngoài “thời đại”, ông còn tìm ra thêm được mấy thủ phạm đích đáng nữa, đều là con đẻ của cái “thời đại” chết tiệt kia: “xu thế phát triển”, “thế hệ này”, “cách mạng khoa học công nghệ”, “sự biến đổi đòi hỏi của thị trường lao động” v.v…
Liều lĩnh khó tin, bởi xin hỏi: nhờ ông “nhìn rộng ra” và chỉ cho biết, dù chỉ một ví dụ thôi, với tất cả các thủ phạm như ông đã dễ dàng phát hiện, có nơi nào trên toàn thế giới có kết quả thi môn lịch sử thê thảm như vừa rồi trong nền giáo dục do ông đảm trách trước quốc dân?
Đây là chuyện hết sức nghiêm túc, nên cũng phải nói với nhau rất nghiêm túc.
Trước hết, chính các thứ thời đại, xu thế, thế hệ, cách mạng khoa học công nghệ, biến đổi thị trường lao động… như ông vừa kể lại đòi hỏi hơn bao giờ hết phải coi trọng khoa học xã hội nhân văn, trong đó có sử và môn sử (và cả môn văn nữa, mà kết quả vừa rồi cũng chẳng hay ho hơn mấy). Xin nêu một bằng chứng: chính là đứng trước những vấn đề như vậy, mà cách đây mấy năm trường đại học Harvard nổi tiếng của Mỹ đã rà soát lại toàn bộ chiến lược của họ, và nghiêm khắc nhận ra, mặc dầu đã cố gắng rất nhiều, họ vẫn còn coi trọng chưa đủ các môn xã hội nhân văn và quyết chuyển hướng mạnh mẽ hơn nữa vào các môn ấy. Bởi vì đối với bất cứ xã hội nào, ở bất cứ “thời đại” nào, thời đại phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ thì càng khẩn thiết hơn, chính khoa học xã hội nhân văn là hết sức cần thiết để giữ cái nền bền chắc cho xã hội và con người, cho sự phát triển bền vững, cho con người dẫu có khoa học công nghệ cao đến đâu, vật chất nhiều đến đâu, cũng vẫn còn là con người chứ không phải là những cái máy khô cằn, nhất là những cái máy chỉ biết hau háu làm ra tiền và nhai tiền. Giữ cho nhân loại còn là nhân loại, chứ không là một đống những vật tinh xảo mà vô cảm và vô lương. Một xã hội quay lưng lại với các khoa học xã hội và nhân văn là một xã hội suy đồi. Một nền giáo dục trong thực tế liệt khối C xuống hạng bét, để cho “chuột chạy cùng sào mới vào khối C”, là một nền giáo dục suy đồi. Và bế tắc. Buồn thay đó chính là tình trạng thực của nền giáo dục chúng ta hiện nay. Và đừng nói rằng điều đó không liên quan gì đến tội ác gia tăng trong xã hội, và cả trong học đường, làm nhức nhối toàn xã hội, còn những người đứng đầu ngành giáo dục thì bình chân như vại. Tất nhiên vấn đề ở đây lớn hơn vấn đề giáo dục, lớn hơn vấn đề của ngành giáo dục, nhưng muốn nói gì thì nói, ngành giáo dục phải chịu trách nhiệm chính. Bởi vì nó được sinh ra, xã hội bỏ tiền mồ hôi nước mắt ra nuôi nó, là để nó làm trước hết công việc ấy: giữ cái nền bình ổn lâu dài vững chãi cho xã hội, cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Quả đã đến lúc cần rà soát lại một cách căn bản toàn bộ chiến lược của nền giáo dục này; và câu hỏi căn bản, đầu tiên là: nó định chế ra máy hay đào tạo ra người? Nếu quả nó định đào tạo ra người thì nhất thiết không vì bất cứ lý do gì, vì lý do “thời đại” càng không, có thể để mặc cho khối C lủi thủi như vậy, không thể coi kết quả thảm hại của thi sử năm nay là bình thường. Đấy là thảm họa, bởi vì đấy không chỉ là chuyện kết quả học sử thi sử như thế nào, mà là dấu hiệu con người coi các giá trị tinh thần và nhân văn chẳng còn đáng xu nào! Một thảm họa xã hội!
Mấy hôm nay nhiều người đã bàn tán xôn xao về sự cố này, và nhiều ý kiến đã tập trung vào cách dạy và học sử. Chắc đều đúng. Tuy nhiên hình như cũng chưa đến lõi của vấn đề. Hẳn ai cũng biết trong các môn học ở trường hiện nay, bị học sinh sinh viên chán nhất, ghét nhất, do đó cũng học kém nhất, học một cách đối phó nhất, kết quả tất cũng tệ nhất là môn sử và môn văn – cùng một vài môn khác thuộc cái gọi là “chương trình cứng” – . Vì sao? Rất đơn giản, và chắc cũng không ít người biết rõ nhưng vì lý do này khác đã không nói ra. Thôi thì cho tôi nói thật vậy: vì đó là những môn bị chính trị hóa nhiều nhất, nặng nề nhất! Chính trị chắc chắn không có gì là xấu, trái lại là khác. Rất cần thiết và cũng có thể rất hay. Học chính trị là quá cần thiết chứ, và có thể dạy thật hay nữa. Nhưng sử là sử, văn là văn, chính trị là chính trị, không thể và hoàn toàn không nên lẫn lộn, dùng cái này để làm cái kia, đem cái này làm công cụ cho cái kia. Cũng không phải là “thống soái” để cho tất cả những cái khác, môn khác phải châu vào cúi đầu phục vụ nó. Mỗi cái có chức năng riêng không thể thay thế của nó để làm nên con người ra người. Nói trắng ra, hiện nay người ta chán, ghét học văn, học sử, là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu mà là dùng văn để dạy chính trị, chủ yếu để dạy chính trị. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác. Một ví dụ: có lần tôi đã nói với một người hiện có vị trí rất cao trong lãnh đạo đất nước rằng tất cả các đề thi sử tốt nghiệp và thi vào đại học gần 40 năm nay đều chỉ hỏi về lịch sử Việt Nam từ sau năm 1930. Cứ như chỉ từ năm 1930 nước ta mới có cái gọi là lịch sử, còn trước đó … chỉ là tiền sử, là thời man dã, người còn là khỉ vượn gì đó thôi chứ chưa thành người! Ông ấy ngạc nhiên hỏi thật thế sao? Thì anh cứ kiểm tra mà xem, tôi bảo. Không biết sau đó ông ấy có kiểm tra không, nhưng rồi không thấy ông nói gì nữa … Học sử học văn như thế, thú thật đến tôi cũng chán ghét, và đi thi chưa chắc đã được 0,5 điểm như thí sinh tội nghiệp vừa rồi.
Ông Bộ trưởng hỏi: Thì tin học có gì hấp dẫn đâu nào, tại sao người ta vẫn lao vào học? Một là, hấp dẫn quá chứ, ít nhất nó cũng cho ta thấy con người có thể sáng tạo ra những thứ thông mình đến chừng nào, chẳng thú vị sao? Nhưng còn có điều quan trọng hơn: nó không bị chính trị hóa, không dễ gì chính trị hóa nó như văn và sử.
Vậy đó, sự thật! Còn e dè, sợ “nhạy cảm”, tránh né nhau, kiêng sợ những lực lượng vô hình như thần thánh, không dám nói thật ra thì có thay đổi cách học cách dạy đến mấy, khéo sang năm môn sử lại 99,99% dưới điểm 5 cho mà xem. Và văn cũng không hơn đâu. Nhìn thẳng, nói thẳng một lần cho xong đi, để mà còn tiến lên cùng thiên hạ, để có một nền giáo dục thực sự lành mạnh và hiệu quả, đào tạo con người ra người, cho một đất nước thật sự văn minh.
Gần đây giáo sư Ngô Việt Trung, viện trưởng Viện Toán học Việt Nam, đã nói rất thẳng thắn: Phải tách khoa học ra khỏi thế quyền. Giáo sư Hoàng Tụy thì nói: Phải “thế tục hóa”nền giáo dục của chúng ta. Ai cũng biết cuộc cách mạng về giáo dục ở chấu Âu đưa đến nền giáo dục hiện đại rực rỡ ngày nay, là kết quả tuyệt vời của cuộc đấu tranh thế tục hóa giáo dục, giải phóng giáo dục ra khỏi kìm chế lâu dài của Nhà thờ. Cần hiểu lời Hoàng Tụy trong ý nghĩa đó.
Nhân nói chuyện sử, xin kể điều này: Ở Pháp có một tổ chức do các nhà sử học độc lập lập ra, tên là CVUH (Comité de Vigilance face à l’usage public de l’histoire), có thể dịch là Ủy Ban Cảnh giác đối mặt với việc đưa Lịch ra sử dụng trong Công chúng. Vậy đó, lịch sử luôn rất dễ bị lợi dụng, thậm chí bóp méo, cắt xén, cắt nghĩa tùy tiện bởi các thế lực khác nhau nhằm làm công cụ cho những mục đích phi lịch sử. Ở nhà trường, cảnh giác với lợi dụng này càng phải ráo riết hơn. Học lịch sử tuyệt nhiên cũng không cần nhớ thuộc lòng đến mụ mị bất cứ ngày tháng phiền phức và vô ích nào, khi như lời ông Bộ trưởng, chúng ta đang sống trong “thời đại” này, cái thời đại chỉ cần nhẹ tay nhấp chuột là ra tất cả. Học sử là để có cái mà không bất cứ con chuột hiện đại nào nhấp ra được cho ta: nhận ra được biện chứng lạ lùng và tất yếu của lịch sử, để mà biết làm người cho xứng đáng người, làm công dân độc lập, tự chủ, sáng tạo, đầy trách nhiệm của nước Việt và của thế giới. Đặc biệt hôm nay, khi vận mệnh Tổ quốc một lần nữa lại đứng trước thử thách lớn.
ÔNG DƯƠNG DANH DY BẢO: TRUYỀN THÔNG VIỆT NAM CHƯA ĐỦ THÔNG TIN?
“Một số người Việt trong nước chưa hiểu hết các sự kiện đã và đang xảy ra, kiều bào thiếu thông tin. Không chỉ vậy, khá đông người Trung Quốc đang bị phương tiện truyền thông nước họ “đánh lừa” nên hiểu sai về Việt Nam”.
Bài viết về Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy rất quan tâm. Ông cho biết, vừa qua ông đã sưu tâm được thêm một tư liệu rất thú vị:
“Đó là một bài báo đăng trên Nhân dân Nhật báo, cơ quan chính thức của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1953. Bài báo năm đó viết rõ ràng là Quần đảo Senkaku (theo cách gọi của Nhật Bản) hay quần đảo Điếu Ngư (theo cách gọi của Trung Quốc) là thuộc lãnh thổ Nhật Bản. Có thể hiểu, vì muốn lôi kéo Nhật Bản chống Mỹ nên Trung Quốc đã viết như vậy. Nhưng bây giờ, vì lợi ích của mình, Trung Quốc đã tuyên bố đảo Senkaku (hay đảo Điều Ngư) thuộc lãnh thổ của họ. Tôi sẽ công bố toàn văn bài báo vào một thời điểm thích hợp”.
Nhà nghiên cứu nghiêm tục nói: “Theo một nguồn tư liệu mà tôi biết, đã có một lần cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích như sau: ‘Ngay từ lúc đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thấy trước, nhiều khả năng Mỹ sẽ mang quân ra miền Bắc. Nói như vậy để ngăn chặn Mỹ không dùng đường biển tấn công miền Bắc Việt Nam".
Như thế là, Việt Nam đã làm như cách trước đó Trung Quốc đã làm với quần đảo Điếu Ngư (hay đảo Senkaku). Nhưng khác với Trung Quốc, hành động của Việt Nam dựa trên cơ sở tin tưởng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em. Thời đó, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ năm 1954 và Trung Quốc đã trao trả đúng hạn năm 1956. Ngoài ra, nên nhớ rằng, trong những năm tháng đẹp đẽ ấy, Trung Quốc còn rất nhiệt tình giúp miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế sau năm 1954, đón nhận nhiều học sinh Việt Nam sang Trung Quốc học tập… Không phải tự nhiên mà câu thơ: “Bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình anh em” đã ra đời vào thời điểm này.
“Hôm nay, tôi chỉ muốn nói thêm về bối cảnh lịch sử như thế để người dân trong nước, ngoài nước và thế giới hiểu hơn” – ông Dương Danh Dy nói.
Theo ông, làm thế nào để cải thiện điều này?
Tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước. Đây là thời điểm chúng ta có thể gặp nhau.
Trước năm 1975, có hai chính quyền, hai chính thể. 36 năm là thời gian đủ để xòa nhòa nhiều chuyện. Giờ nước Việt Nam thống nhất là của chung, của mọi người Việt Nam. Thế hệ Việt kiều trẻ đang thay thế dần thế hệ cũ, họ hiểu biết rộng mở hơn, có tình cảm và hướng về quê hương. Chúng ta càng cần phải thông tin cho họ hiểu.
Cần phải tìm hiểu lẫn nhau, người ngoài nước tìm hiểu trong nước, truyền thông trong nước phải để người bên ngoài thấy sự tiến bộ, những thành tựu to lớn ở trong nước. Hai bên gặp nhau ở tình yêu nước, mong muốn đất nước giàu mạnh lên, chống được áp lực ngoại bang.
Nhìn chung, chủ trương của Đảng, Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài là tốt. Chỉ cần có sự vận dụng bằng phương pháp thuyết phục, sẽ tập hợp được lực lượng, tận dụng được sức mạnh, đặc biệt là tri thức khoa học, kỹ thuật và vốn đầu tư của kiều bào.
| Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy. Ảnh IE |
“Đó là một bài báo đăng trên Nhân dân Nhật báo, cơ quan chính thức của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1953. Bài báo năm đó viết rõ ràng là Quần đảo Senkaku (theo cách gọi của Nhật Bản) hay quần đảo Điếu Ngư (theo cách gọi của Trung Quốc) là thuộc lãnh thổ Nhật Bản. Có thể hiểu, vì muốn lôi kéo Nhật Bản chống Mỹ nên Trung Quốc đã viết như vậy. Nhưng bây giờ, vì lợi ích của mình, Trung Quốc đã tuyên bố đảo Senkaku (hay đảo Điều Ngư) thuộc lãnh thổ của họ. Tôi sẽ công bố toàn văn bài báo vào một thời điểm thích hợp”.
Nhà nghiên cứu nghiêm tục nói: “Theo một nguồn tư liệu mà tôi biết, đã có một lần cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích như sau: ‘Ngay từ lúc đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thấy trước, nhiều khả năng Mỹ sẽ mang quân ra miền Bắc. Nói như vậy để ngăn chặn Mỹ không dùng đường biển tấn công miền Bắc Việt Nam".
Như thế là, Việt Nam đã làm như cách trước đó Trung Quốc đã làm với quần đảo Điếu Ngư (hay đảo Senkaku). Nhưng khác với Trung Quốc, hành động của Việt Nam dựa trên cơ sở tin tưởng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các nước XHCN anh em. Thời đó, Việt Nam đã nhờ Trung Quốc tiếp quản đảo Bạch Long Vĩ năm 1954 và Trung Quốc đã trao trả đúng hạn năm 1956. Ngoài ra, nên nhớ rằng, trong những năm tháng đẹp đẽ ấy, Trung Quốc còn rất nhiệt tình giúp miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế sau năm 1954, đón nhận nhiều học sinh Việt Nam sang Trung Quốc học tập… Không phải tự nhiên mà câu thơ: “Bên ni biên giới là mình, bên kia biên giới cũng tình anh em” đã ra đời vào thời điểm này.
“Hôm nay, tôi chỉ muốn nói thêm về bối cảnh lịch sử như thế để người dân trong nước, ngoài nước và thế giới hiểu hơn” – ông Dương Danh Dy nói.
Tri thức Việt kiều chưa khai thác hết? Tại truyền thông Việt Nam chưa đưa đủ thông tin!
Ông và chúng tôi đều nhắc đến nhiều ý kiến góp ý , tranh luận gần đây của trí thức trong và ngoài nước về câu chuyện biển Đông...Nhiều ý kiến cho rằng, Việt Nam chưa tận dụng hết tri thức Việt kiều. Quan điểm của ông như thế nào?
Sự ít nói của truyền thông cũng là một trong những lý do khiến chúng ta chưa tận dụng hết mỏ vàng tri thức Việt kiều và chưa làm cho bà con thấy hết vấn đề.
Thứ nhất, những người Việt ở nước ngoài gồm những người định cư từ lâu đời, những người sang sống ở nước ngoài từ sau năm 1975. Họ thiếu thông tin, không thấy được sự thay đổi của đất nước, đặc biệt từ sau đổi mới năm 1986. Nhiều người ở nước ngoài vẫn nhìn chính thể bằng cái nhìn chưa thỏa đáng. Tôi có họ hàng và quen biết một số nhân sĩ trí thức người Mỹ gốc Việt nên đã cảm thấy điều đó.
Thứ hai, cũng do thiếu thông tin nên một số bà con nhìn cách Việt Nam ứng xử với Trung Quốc chưa cập nhật. Họ không thấy hết những khó khăn khi sống cạnh một anh hàng xóm vừa mạnh, vừa giàu, vừa ác ý, xấu tính mà không thể chuyển nhà đi đâu được”.
Sự ít nói của truyền thông cũng là một trong những lý do khiến chúng ta chưa tận dụng hết mỏ vàng tri thức Việt kiều và chưa làm cho bà con thấy hết vấn đề.
Thứ nhất, những người Việt ở nước ngoài gồm những người định cư từ lâu đời, những người sang sống ở nước ngoài từ sau năm 1975. Họ thiếu thông tin, không thấy được sự thay đổi của đất nước, đặc biệt từ sau đổi mới năm 1986. Nhiều người ở nước ngoài vẫn nhìn chính thể bằng cái nhìn chưa thỏa đáng. Tôi có họ hàng và quen biết một số nhân sĩ trí thức người Mỹ gốc Việt nên đã cảm thấy điều đó.
Thứ hai, cũng do thiếu thông tin nên một số bà con nhìn cách Việt Nam ứng xử với Trung Quốc chưa cập nhật. Họ không thấy hết những khó khăn khi sống cạnh một anh hàng xóm vừa mạnh, vừa giàu, vừa ác ý, xấu tính mà không thể chuyển nhà đi đâu được”.
Theo ông, làm thế nào để cải thiện điều này?
Tuyệt đại đa số người Việt Nam yêu nước. Đây là thời điểm chúng ta có thể gặp nhau.
Trước năm 1975, có hai chính quyền, hai chính thể. 36 năm là thời gian đủ để xòa nhòa nhiều chuyện. Giờ nước Việt Nam thống nhất là của chung, của mọi người Việt Nam. Thế hệ Việt kiều trẻ đang thay thế dần thế hệ cũ, họ hiểu biết rộng mở hơn, có tình cảm và hướng về quê hương. Chúng ta càng cần phải thông tin cho họ hiểu.
Cần phải tìm hiểu lẫn nhau, người ngoài nước tìm hiểu trong nước, truyền thông trong nước phải để người bên ngoài thấy sự tiến bộ, những thành tựu to lớn ở trong nước. Hai bên gặp nhau ở tình yêu nước, mong muốn đất nước giàu mạnh lên, chống được áp lực ngoại bang.
Nhìn chung, chủ trương của Đảng, Nhà nước với người Việt Nam ở nước ngoài là tốt. Chỉ cần có sự vận dụng bằng phương pháp thuyết phục, sẽ tập hợp được lực lượng, tận dụng được sức mạnh, đặc biệt là tri thức khoa học, kỹ thuật và vốn đầu tư của kiều bào.
Nhiều phương tiện truyền thông Trung Quốc nói sai về Việt Nam
Mới đây, cựu Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc tới chuyện truyền thông Trung Quốc thông tin không đúng cho nhân dân Trung Quốc về đường 9 đoạn, coi đó là chủ quyền của Trung Quốc. Ông nghĩ thế nào về điều này?
Mới đây, một cán bộ ngoại giao đã về hưu đến bảo: “Tôi chịu anh. Anh đọc những bài báo, bài viết trên các trang báo, trạng mạng Trung Quốc thấy họ nói không đúng về ta như vậy mà anh chịu được. Thần kinh vững đấy!”.
Tôi đã trả lời, cái nghiệp này phải tỉnh táo. Phải phân tích tại sao họ viết sai về mình như vậy? Khách quan mà nói, mấy tờ Nhân dân Nhật Báo, Quân Giải Phóng, Thanh Niên Trung Quốc, những tờ báo chính thống của Trung Quốc gần đây hầu như không có bài viết nào nói không đúng về Việt Nam. Nhưng tờ Hoàn Cầu Thời báo, các mạng chính thức khác của Trung Quốc mấy chục năm nay đã nói sai, nói xấu Việt Nam rất nhiều. Một số sách lịch sử, bách khoa thư, sáng tác văn học… cũng như vậy. Ví dụ, họ đổ hết lỗi cho Việt Nam về năm 1979, cho là Việt Nam đang chiếm đóng đóng quần đảo Trường Sa của họ.
Khá đông người Trung Quốc đang bị truyền thông nước họ "đánh lừa" trong khi truyền thông Việt Nam một thời gian dài hầu như im lặng.
Lại một lần nữa phải hỏi, chúng ta nên làm thế nào, thưa ông?
Phải nói rõ sự thật với những người Trung Quốc đang hiểu sai Việt Nam, đặc biệt, phải giúp các bạn thanh niên, học sinh Trung Quốc tỉnh ngộ. Việt Nam nên có những trang mạng bằng tiếng Trung Quốc, tăng thêm giờ phát thanh tiếng Trung, nói cho người Trung Quốc biết về Hoàng Sa, Trường Sa và những bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo này, làm cho họ hiểu đâu là chủ quyền của họ, đâu là chủ quyền của ta và Trung Quốc phải tôn trọng lợi ích chính đáng của dân tộc Việt Nam.
Quan trọng là, cần phải công khai rõ thông tin cho người dân trong nước, ngoài nước, người Trung Quốc và thế giới hiểu Việt Nam.
Mới đây, cựu Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm có nhắc tới chuyện truyền thông Trung Quốc thông tin không đúng cho nhân dân Trung Quốc về đường 9 đoạn, coi đó là chủ quyền của Trung Quốc. Ông nghĩ thế nào về điều này?
Mới đây, một cán bộ ngoại giao đã về hưu đến bảo: “Tôi chịu anh. Anh đọc những bài báo, bài viết trên các trang báo, trạng mạng Trung Quốc thấy họ nói không đúng về ta như vậy mà anh chịu được. Thần kinh vững đấy!”.
Tôi đã trả lời, cái nghiệp này phải tỉnh táo. Phải phân tích tại sao họ viết sai về mình như vậy? Khách quan mà nói, mấy tờ Nhân dân Nhật Báo, Quân Giải Phóng, Thanh Niên Trung Quốc, những tờ báo chính thống của Trung Quốc gần đây hầu như không có bài viết nào nói không đúng về Việt Nam. Nhưng tờ Hoàn Cầu Thời báo, các mạng chính thức khác của Trung Quốc mấy chục năm nay đã nói sai, nói xấu Việt Nam rất nhiều. Một số sách lịch sử, bách khoa thư, sáng tác văn học… cũng như vậy. Ví dụ, họ đổ hết lỗi cho Việt Nam về năm 1979, cho là Việt Nam đang chiếm đóng đóng quần đảo Trường Sa của họ.
Khá đông người Trung Quốc đang bị truyền thông nước họ "đánh lừa" trong khi truyền thông Việt Nam một thời gian dài hầu như im lặng.
Lại một lần nữa phải hỏi, chúng ta nên làm thế nào, thưa ông?
Phải nói rõ sự thật với những người Trung Quốc đang hiểu sai Việt Nam, đặc biệt, phải giúp các bạn thanh niên, học sinh Trung Quốc tỉnh ngộ. Việt Nam nên có những trang mạng bằng tiếng Trung Quốc, tăng thêm giờ phát thanh tiếng Trung, nói cho người Trung Quốc biết về Hoàng Sa, Trường Sa và những bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo này, làm cho họ hiểu đâu là chủ quyền của họ, đâu là chủ quyền của ta và Trung Quốc phải tôn trọng lợi ích chính đáng của dân tộc Việt Nam.
Quan trọng là, cần phải công khai rõ thông tin cho người dân trong nước, ngoài nước, người Trung Quốc và thế giới hiểu Việt Nam.
(Theo Bee.net)
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)